Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Trường hợp áp dungj biện pháp khẩn cấp


Người nào là người có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Trả lời: Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khdi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, có quyền yêu cầu Toà án đang giải quyết vụ án đõ áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thòi quy định tại Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngán chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Tpà án có thẩm quyên rạ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cập tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đồng thời vổi việc nộp đơn khồi kiện cho Toà án đó.

Quy định việc bảo vệ chứng cứ


Pháp luật quy định việc bảo vệ chứng cứ như thế nào?

Trả lời: Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định việc bảo vệ chứng cứ như sau:
- Trong trường hợp chứng cứ đang bị tỉêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị Toà án quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Toà án có thể quyết đỉnh ảp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niễm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biến bản và các biện pháp khác.

- Trong trường hợp hgưòi làm chứng bị đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Toà án có quyền quyết định buộc người cổ hanh vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc phẵi chấm dứt hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc ngưồi làm chứng. Trưòng hợp hành vi đe doạ, không chế hoặc mua chuộc có dâu hiệu tội phạm thì Toà án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trầch nhiệm hình sự.

Trường hợp đương sự yêu cầu thu thập chứng cứ


Trong trường hợp nào đương sự có thể yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ? Toà án yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì:
Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, nhằm bảọ đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.
Đương sự yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó.
Toà án có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Trường hợp quyết định định giá tài sản


Trong những trường hợp nào Toà án quyết định định giá tài sản tranh chấp?

Trả lời: Theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Toà án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây:
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
- Các bên thoả thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí.
Hội đồng định giá do Toà án quyết định thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng và các thành viên là đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan. Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thòi gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá.
Cơ quan Tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cỏ người tham gia Hội đồng định giá và tạo điểu kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đổng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá.

Việc định giá phải được ghi thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản.

Trường hợp trưng cầu giám định


Trong những trường hợp nào thì Toà án tiến hành trưng cầu giám định?

Trả lời: Điều 90 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định việc trưng cầu giám định được thực hiện như sau:
- Theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đôi tượng cần giám định, những vấh đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
- Người giám định nhận được quyết định trưng cầu giám định phải tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại. Việc giám định lại có thể do người đã tiến hành giám định trước đó thực hiện hoặc do tổ chức chuyên môn khác thực hiện theo quy định của pháp luật.

Những trường hợp đương sự đối chất


Trong trường hợp nào thì Toà án tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau?

Trả lời: Về vấn đề này Điều 88 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy dinh như sau:
- Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đôi chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa nhừng người làm chứng với nhau;

- Việc đổi chất phải được ghi thành biên bản, có chữ ký của những người tham gia đốỉ chất.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Quy định việc lấy lời khai của người làm chứng


Việc lấy lời khai của người làm chứng được pháp luật quy đinh như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 87 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, việc lấy lời khai của người làm chứng được quy định như sau:
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Toà án hoặc ngoài trụ sở Toà án.
 Thủ tục lấy lời khai cửa người làm chứng được tiến hành như việc lấy lòi khai của đương sự quv định tại khoản 2 Điều 86 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (xem Câu hỏi I trả lời số 84 trên đây).

 Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến bành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý trông nom người đó.

Trình tự và thủ tục lấy lời khai


Trong trường hợp nào Toà án có quyển lấy lời khai của đương sự? Trình tự, thủ tục lấy lời khai của đương sự được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lây lòi khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Toà án ghi lại lòi khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Toà án, trong trưòng hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sỏ Toà án.
Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghé đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyển yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có' chữ ký của người lây lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Toà án; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dâu giáp lai. Trường hợp biên bản ghi lòi khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Toà án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ưỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản.

Việc lấy lòi khai của đương sự thuộc một trong các trường hợp: Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự hoặc đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười làm tuổi (khoản 4 và khoản 5 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004) phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của đương sự đó (Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự nãm 2004).

Đương sự có thể yêu cầu tòa án thu thập chứng cứ


Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ không?

Trả lời: Khoản 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
h) Trưng cầu giám định;
c) Quyết định định giá tài sản;
d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
đ) Uỷ thác thu thập chứng cứ;
e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, ítổ chức cụng cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được họặê hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ liên dân
Khi tiến hành có biện pháp nói tại các điểm b, c, d, đ vậy trên đây, thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu ọủạ Toà án. Đương sự có quyền khiếu nại quyết định ập dụng biện pháp thu thập chứng cứ của Toà án. Khiếu nại của đương sự phải được gọi ngay cho Viện kiểm sát, Viện kiểm sát có quyền Tòa án xác minh, thu thập; chứng cứ khiếu nại của đương sự và xem xét việc tham gia phiên.

Trong trường hợp Viện kiểm sật có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân ,cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.

Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Quy định giao nộp chứng cứ


Pháp luật quy định việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, việc giao nộp chứng cứ của đương sự chỗ Tòa án được quy định như sau:
- Trong quá trình Toà án giải quyêt vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đẩy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Việc đương sự giao nộp chứng cứ cho Toà án phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biền bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dưng, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gia kí nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Toà án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ.

- Đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Xác định chứng cứ của các cơ quan


Các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự xác định chứng cứ như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 83 Bộ luật tô" tụng dân sự năm 2004, các cơ quan tiến hành tô" tụng xác định chứng cứ như sau:
1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyên cung cấp, xác nhận;
2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuâ"t xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;
3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;
4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định tại điểm 2 nêu trên hoặc khai bằng lời tại phiên toà;
5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định;
7. Tập quán được coi là chửng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận;

8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia vể giá cả cung cấp theo điểm 1 nêu trên.

Thu thập chứng cứ trong tố tụng


Những gì được coi là chứng cứ trong tố tụng dân sự? Chứng cứ được thu thập từ những nguồn nào?

Trả lời: Theo Điều 81 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tô' tụng dân sự năm 2004 quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đôì của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Theo Điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ tập quán; kết quả định giá tài sản; các nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự


Pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự như thế nào?

Trả lời: Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự như sau:
- Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
- Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.
- Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngưòi khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu Cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

- Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà khqng đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng


Người nào là người làm chứng? Người làm chứng có những quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời: Theo Điều 65 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án có thể được Toà án triệu tập tham gia tô tụng vói tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thê là người làm chứng.
Theo Điều 66 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người làm chứng có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Cung cấp toàn bộ những thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
- Được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình.
- Được nghỉ việc trong thời gian Toà án triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tô chức.
- Được hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu Toà án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyển bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; khiếu nại hành vi tố tụng của ngưòi tiến hành tố tụng.
- Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác.
- Phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, nếu việc lấy lời khai của người làm chứng phải thực hiện công khai tại phiên toà; trường hợp người làm chứng không đến phiên toà mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên toà.

- Phải cam đoan trước Toà án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ người làm chứng là người chưa thành niên. Người làm chứng khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, từ chối khai báo hoặc khi được Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Trường hợp chỉ định người đại diện cho đương sự


Trong những trường hợp nào thì Toà án chỉ định người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự?

Trả lời: Theo Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyển và lợi ích hợp pháp của họ đôi lập với quyền và lợi ích hợp pháp của ngưòi được đại diện; hoặc họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyển và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án, thì Toà án phải chi định người đại diện để tham gia tố tụng tại Toà án.

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2014

Người không được đại diện cho đương sự


Những người nào không được làm đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự?

Trả lời: Theo Điểu 75 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, những người sau đây không được làm đại diện theo pháp luật và theo uỷ quyền:
- Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyển và lợi ích hợp pháp của họ đôi lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện.
- Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyển và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án.

- Cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện cho đương sự trong vụ án dân sự


Người đại diện cho đương sự trong vụ án dân sự là người nào?

Trả lời: Người đại diện trong tố tụng dần sự cũng là người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự mà mình làm đại diện. Theo Điểu 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo uỷ quyền:
- Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự (bố, mẹ, vợ, chồng, anh chị em ruột) là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chê" quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khỏi kiện để bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp của ngưòi khác cũng là đại diện theo pháp luật trong tô" tụng dân sự của người được bảo vệ.
- Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật đương sự không được uỷ quyền cho ngưồi khác thay mặt mình tham gia tô' tụng.

Việc ủy quyền có thể là một phần hoặc là toàn bộ các quyền của đương sự trong tố tụng dân sự. Việc ủy quyền phải lập thành văn bản và có xác nhận của úy ban nhân dân cấp xã hoặc công chứng nhà nước. Mặc dù đã ủy quyền cho người đại điện nhưng đương sự vẫn có quyển tự mình tham gia tô' tụng hoặc Tòa án vẫn có quyền triệu tập đương sự tham gia tô' tụng, nếu xét thấy cần thiết để làm sáng tỏ vụ án.

Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ hợp pháp đương sự


Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có những quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời: Theo Điều 64 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có những quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Được tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự và được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết;
- Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
- Tham gia việc hoà giải, tham gia phiên toà hoặc có vản bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
- Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tô' tụng khác theo quy định của Bộ luật tô' tụng dân sự năm 2004;
- Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của họ;

- Tranh luận tại phiên toà; phải cổ mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thòi gian giải quyết vụ án; tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà (các quyền, nghĩa vụ quy định tại các điểm m, q và r khoản 2, Điều 58 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004).

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đương sự


Theo quy đinh của pháp luật tố tụng dân sự, ai là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự?

Trả lời: Theo Điều 63 Bộ luật tô' tụng dân sự năm 2004, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhò và được Toà án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm ngưòi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
- Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật vể luật sư;
- Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dần sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện phốp xử lý hành chính đưa vào cơ sỏ chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chê hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an;

- Người bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyển và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.

Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế


Trong trường hợp đương sự là cá nhân chết hoặc đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, chia tách, thì ai là người kế thừa quyển và nghĩa vụ tố tụng dân sự?

Trả lời: Trường hợp đương sự là cái nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vu vể tâỉ ẻản của họ được thừa kế thì người tỊiừa kế của họ tham gia tô" tụng.
Theo Điểu 62 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, trường hợp, đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tô tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, chuyển đổi hình thức tể chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đố được xác định như sau:
- Trường hợp, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên cửa tể chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng;
Trường hợp, cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hôi tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức cấp trên của cơ quan, tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng;
- Trường hợp, tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thữc tổ chức thì cá nhân, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đổ tham gia tô tụng.

Trường hợp, đương sự là tổ chức không phải là pháp nhân mà người đại diện hoặc người qủản lý đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng; nếu tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì cá nhân là thành viên cửa tô chức đó tham gia tố tụng.

Quyền lợi và nghĩa vụ của người liên quan


Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có những quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời: Theo Điểu 61 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Các quyển và nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điểu 58 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc vối bên bị đơn;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điểu 59 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thi có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 59 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Điều 60 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn


Bị đơn dân sự có những quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời: Theo Điều 60 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, bị đơn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
* Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điểu 58 của Bộ luật Tô" tụng dân sự năm 2004;
- Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
* Đưa ra yêu cầu phần tố đối với nguyên đơn nêu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc để nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu;
- Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án giải quyết vắng mặt bị đơn.

Quyền và ghĩa vụ của nguyên đơn


Nguyên đơn có những quyền và nghĩa vụ gì?

Trả lời: Theo Điều 59 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, nguyên đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
- Các quyền, nghĩa vụ của đương sự nêu tại các câu hỏi và trả lồi 65 và câu hỏi và trả lời 66 trên đây (quy định tại Điều 58 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004);
- Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khỏi kiện;
- Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tô' tụng;
- Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện.

Nghĩa vụ của đương sự


Các đương sự có những nghĩa vụ gì?

Trả lời: Khi tham gia tố tụng dân sự, các đương sự có các nghĩa vụ sau đây.
- Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
- Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
- Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
- Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
- Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của mình;
- Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;

- Các nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Quyền của đương sự trong vụ án dân sự


Đương sự trong vụ án dân sự có những quyền gì?

Trả lời: Theo điều Bộ luật dân sự năm 2004, khi tham gia tố tụng dân sự, đương sự có các quyền sau dây:
- Cung cấp chứng cớ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Yêu cầu cá nhân, cờ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án.
- Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện dược hỡậc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng Gầu giám định, định giá; khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cớ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đựơng sự khác yêu cầu;
 - Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do cốc đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
- Đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thòi;
- Tự thoả thuận với nhau vềviệc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
- Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;
- Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
• Tham gia phiên toà;
- Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
* Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;
- Tranh luận tại phiên toà;
* Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án;
• Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này;
- Phát hiện và thông báo cho người cố thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã cổ hiệu lực pháp luật;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Đương sự trong vụ án dân sự


Người nào được gọi là đương sự trong vụ án dân sự?

Trả lời: Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: Đương sự trong vụ án dân sựlà cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Nguyên đơn trong vụ án dân sựlà người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định khởi kiện đê yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Toà án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là ngưòi có quyến lợi. nghĩa vụ liên quan.

Câu 64. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tô tụng dân sự của đương sự được pháp luật quy định như thế nào?

Quy định về thành phần giải quyết việc dân sự


Pháp luật quy định về thành phần giải quyết việc dân sự của Tòa án như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 55 Bộ luật tô tụng dân sự năm 2004 thì thành phần giải quyết việc (yêu cầu) dân sự của Tòa án được quy định như sau:
1. Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại khoản 5 Điều 2 khoản 6 Điều 28, khoản 2 và khoản 3 Điểu 30, Điều 32 của Bộ luật tô tụng dân sự hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyêt việc dân sự do một tập thể gồm ba Thâm phán giải quyết.
2. Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động không thuộc trường hợp quy dinh tại diêm 1 trên đây do một Thẩm phán giải quyết.
3. Thành phần giải quyết những yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị của tòa án


Toà án xem xét kháng cáo, kháng nghị như thế nào?

Trả lời: Điều 373 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định Toà án xem xét kháng cáo, kháng nghị như sau:
- Toà án nhân dân tối cao xét quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá hai tháng.
- Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ toạ theo sự phân công của Ghánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao. Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đớn yêu cầu quy định tại Đỉều 369 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
- Hội đồng có qủyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc xét kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đương sự rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị hoặc có căn cớ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 368 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuôì cùng và có hiệu lưc thi hành.

Hội đồng xét xử


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án dân sự bao gồm những người nào?

Trả lời: Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 52 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004).
Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sựgồm ba Thẩm phán (Điều 53 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004).
Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà án nhân dân cấp tỉnh là uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh (thường có 9 thành viên). Khi Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh tiến hành giám dốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã cỗ hiệu lực phấp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia (theo tinh thần khoản 3 Điều 54 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004).
Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao gồm có ba Thẩm phán (khoản 2 Điều 54 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004).

Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm Toà án nhân dân tối cao là Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (thường có 17 thành viên). Khi Hội đồng thẩm phán Toầ án nhãn dân tối cao tiến hành giám đốc thẩm, tái thẩm bán án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có nhất hai phần ba tống số thành viên tham gia (theo tinh thán khoản 3 Điểu 54 Bộ luật tố tụng dân sự nầm 2004).