Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Giải quyết tranh chấp tài sản của người có công

Giải quyết tranh chấp tài sản của người có công

Tài sản được Nhà nước cấp cho người có công với cách mạng khi có tranh chấp được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Trường hợp người có công với Cách mạng được nhận tài sản trong thời kỳ hôn nhân khi họ còn sông thì tài sản đó được coi là tài sản riêng của người có công với Cách mạng, trừ trường hợp ho đã nhập vào khỏi tài sản chung của vợ chồng. Khi họ chết thì tài sản đó là di sản để lại cho các thừa kế của họ.

Trường hợp sau khi người có công với Cách mạng đã chết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyết định cho họ được hưởng tài sản (cấp cho thân nhân của người có công với Cách mạng) theo quy định của pháp luật thì tài sản đó là di sản để lại cho các thừa kế của họ, trừ trường hợp trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi rõ tên người được hưởng di sản của người có công với Cách mạng đã chết (xem Mục 1, Phần III Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốỉ cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bộ luật tố tụng dân sự, án phí dân sự


Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Trường hợp đất đai của các cơ quan bị giải thể

Trường hợp đất đai của các cơ quan bị giải thể

Trong trường hợp đất đã được cá nhân, tổ chức đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã mà sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xã giải thể thì họ có quyền đòi lại quyển sử dụng đất đó không?

Trả lời: Đối với đất đã được cá nhân, tổ chức đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã để sử dụng chung trong quá trình thực hiện chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xạ bị giải thể thì chủ cũ hoặc người thừa kế của người đó không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất nếu đất đó đã được giao cho người khác sử dụng và họ đã được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyển cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, khoản 2, Điều 2 Luật đất đai năm 1993 và khoản 2 Điều 10 Luật đất đai năm 2003 hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, trừ trường hợp có căn cứ chứng minh người đang sử dụng đất đọ có hành vi gian dốỉ, lừa đảo, v.v. để được giao quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện đòi lại đất cũ theo quy định của pháp luật (xem điểm 2.4, Mục 2, Phần II Nghị quyêt số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đơn khởi kiện, án phí dân sự

Tranh chấp quyền chuyển nhượng sử dụng đất trước ngày 15/10/1993

Tranh chấp quyền chuyển nhượng sử dụng đất trước ngày 15/10/1993

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 01-7-1980 (ngày Chính phủ ban hành Quyết định số 201-CP) đến trước ngày 15-10-1993 (ngày Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực) được Tòa án giải quyết như thế nào?

Trả lời: Pháp luật thời kỳ này nghiêm cấm việc mua, bán, phát canh thu tô chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức; do đó khi có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết như sau:
-  Về nguyên tắc chung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dủng đất được xác lập trông thơi điểm từ tìgày 01-7- 1980 đến trước ngày 15-10-1993 là hợp đồng trái pháp luật. Vì vậy, khi có tranh chấp mà hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất chưa được thực hiện thi Tòa án hủy hợp đồng vì hợp đồng vô hiệu;
-  Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thì Tòa án công nhận hợp đồng trong các trường hợp sau đâỵ;
+ Bên nhận quyền sử dụng đất đã được ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
+ Trường hợp đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bên nhận chuyển nhượng quyển sử dụng đất đã hoàn tất thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, ủy ban nhân dân đã cho phép chuyển nhượng;

+ Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh không vi phạm quy đinh về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển nhương quyền sử dụng đất xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lậu năm, đầu tự sạn xuất, kinh doanh trên đất đó (xem điểm 2.2, Mục 2, Phần II Nghị quyết sô 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng 'Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bo luat to tung dan su, don khoi kien

Giải quyết hợp đồng chuyển nhượng đất không phù hợp với quy định

Giải quyết hợp đồng chuyển nhượng đất không phù hợp với quy định

Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01-7-1980 có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nhưng hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng, khi xảy ra tranh chấp sau ngày 15-10-1993 thì được Tòa án giải quyết như thế nào?
Trả lời: Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01-7-1980 có nội dung phù hợp vối quỵ định của pháp luật nhưng hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp hật tại thời điểm giao kết hợp đồng, khi xảy ra tranh chấp sau ngày 15-10-1993 thì được Tòa án giải quyết như sau:
- Nếu các bên chưa thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng (chưa giao nhận đất và tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất) thì Tòa án tuyên bô" hợp đồng vô hiệu và hủy hợp đồng;
-  Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiển chuyển nhượng đất; bên chuyển nhượng đã giao toàn bộ diện tích đất, thì Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất đó;
Trong trường hợp bên nhận chuýển nhượng mới trả một phần tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên chuyến nhượng mới giao một phần diện tích đất, thì có thế công nhận phần hợp đồng đó căn cứ vào diện tích đất đã nhận.
Trong trường hợp bên chuyển nhượng giao diện tích đất có giá trị lớn hơn số tiền mà họ đã nhận thì Tòa án buộc bên nhận chuyển nhượng thanh toán cho bên chuyến nhượng phần chênh lệch giữa sô' tiền mà bên nhận chuyến nhượng đã trả so với diện tính thực tế mà họ đã nhận tại thòi điểm giao kết hợp đồng theo giá trị quyển sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thòi điểm xét xử sơ thẩm. Đồng thời buộc các bên phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà bên nhận chuyển nhượng đã nhận.
Trong trương hợp bên nhận chuyển nhượng đã giao số tiền lớn hơn giá trị diện tích đất đã nhận mà Tòa án chỉ công nhận phần hợp đồng tương ứng với diện tích đất mà họ đã nhận thì bên chuyển nhượng phải thanh toán khoản tiền đã nhận vượt quá giá trị diện tích đất đã giao tính theo giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trưòng tại thời điểm xét xử sơ thẩm (xem điểm 2.1, Mục 2, Phần II Nghị quyết Số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bo luat to tung dan su, án phí dân sự

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất

Giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất

Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01-7-1980 có nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đổng, nhưng xảy ra tranh chấp sau ngày 15-10-1993 thì được Tòa án giải quyết như thế nào?

Trả lời: Trường hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01-7-1980 có nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp vổi quy định của pháp luật tại thời điểm giáo kết hợp đồng, nhưng xảy ra tranh chấp sau ngày 15-10-1993 thì được Tòa án giải quyết như sau:
-  Nếu bên nhận chuyển nhượng đã nhận đất thì Tòa án công nhận hợp đồng, buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và phải làm thủ tục chuyển quyển sử dụng đất. Nếu bên nhận đất chưa trả đủ tiển cho bên có đất thì buộc họ phải trả cho bên chuyển nhượng số tiến còn thiếu theo giá đất thực tế trên thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm;
-  Nếu bên nhận chuyển nhượng đã trả đủ tiền nhưng chưa nhận đất và bên chuyển nhượng vẫn quản lý, sử dụng, chưa xây dựng công trình kiến trúc trên đất đó, thi các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trưòng hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp bên chuyển nhượng đã làm nhà ở hoặc không có điều kiện để giao đất cho bên nhận chuyển nhượng, thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án có thể hủy hợp đồng, buộc bên chuyển nhượng phải thanh toán cho bên nhận chuyển nhượng khoản tiền đã nhận theo giá đất thực tế trên thị trưòng tại thời điểm xét xử sơ thẩm (xem điểm 2.1, Mục 2, Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: don khoi kien, án phí dân sự

Trường hợp người chết không để lại giấy tờ đất hợp pháp

Trường hợp người chết không để lại giấy tờ đất hợp pháp

Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ hợp pháp (quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điểu 50 Luật đất đai năm 2003) nhưng có di sản (là tài sản của người chết để lại) trên đất đó thì được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, nhà xưồng dùng để sản xuất, kinh doanh, chuồng trại chăn liuôi v.v, cấy lấy gỗ, lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các loại cây lâu năm khác gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế thì được giải quyết như sau:
- Trong trường hợp đương sự có văn bản của úy ban nhân dân cấp có thẩm quyển xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyển sử dụng đất đó;
- Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyển xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm qúy hbạch và có thể được xem xét để giao quyển sử dụng đất, thì Tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyển sử dụng đất đó cho đương sự để ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyển tiếp hành các thủ tục giao quyển sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Trong trường hợp úy ban nhân dân cấp có thẩm quyển có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền vói quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó thì Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó (xem điểm 1.3, Mục 1, Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bộ luật dân sự mới nhất, đơn khởi kiện

Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tranh chấp quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất của người chết để lại được coi là di sản thừa kế trong những trường hợp nào?

Trả lời: Theo điểm l, Mục 1, Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQHĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì quyền sử dụng đất của người chết để lại được coi là di sản thừa kế trong những trường hợp sau đây:
1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền vói quyền sử dụng đất) mà ngưòi đó đã có giây chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì quyền sử dụng đất đó là di sản thừa kế;

2. Đối với trường hợp đất do ngưồi chêt để lại mà người đó có một trong các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01-7- 2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sẳn thừa kế, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bộ luật dân sự mới nhất, án phí dân sự

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Pháp luật quy định về trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi vi pham pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự như thế nào?

Trả lời: Điều 403 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định trách nhiệm của người có thẩm quyển giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự như sau:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thẹo quy định của pháp luật.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đơn khởi kiện, án phí dân sự

Thời hạn tiến hành giải quyết khiếu nại

Thời hạn tiến hành giải quyết khiếu nại

Người nào có thẩm quyển giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát? Việc giải quyết khiếu nại đó của người có thẩm quyển được tiến hành trong thời hạn bao lâu?

Trả lời: Điều 395 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định về thẩm quyền và thời hạn giải quyêt khiêu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưỏng và Viện trương Viện kiểm sát như sau:
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thòi hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyển khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thòi hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết.” Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết trong thòi hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.



Nghĩa vụ người khiều nại và người tố cáo

Nghĩa vụ người khiều nại và người tố cáo

Người khiếu nại và người tố cáo có những nghĩa vụ gì?

Trả lời: Theo khoản 2 Điểu 392 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
-  Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyển igiải quyết;
- Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trưốc pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tai liệu đó;
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Theo khoản 2 Điều 399 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
- Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
-  Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.